Trang chủ Góp ý Liên lạc Sơ đồ Tìm kiếm:
Giới thiệu
DUSTA (LHH KHKT DN)
HỘI VIÊN
Các Hội bạn
Tin tức - Sự kiện
Tham khảo
Sách hay
Life Around Us
Phản biện - Tư vấn
Tham gia bình chọn
Gởi Tin - bài
Liên lạc
  Thống kê truy cập
Số lần xem : 792265
Đang xem : 67
 
Trang chủ » Tham khảo » Phương pháp luận trong hoạt động giám sát, đánh giá KHXH
Phương pháp luận trong hoạt động giám sát, đánh giá KHXH

GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ.

Phạm Bích San, PGS. TS

Trung tâm Nghiên cứu Thị trường và Phát triển.

I. DẪN NHẬP

Các dự án, chương trình một khi được đưa vào triển khai trong cuộc sống thì chúng trở thành các hoạt động mang tính chất xã hội, có liên quan đến hành vi của nhiều con người đang tồn tại trong xã hội đó. Tuy nhiên, hành vi con người là một đại lượng luôn luôn thay đổi và sự thay đổi đó ảnh hưởng đến kết quả của các dự án và các chương trình. Vì vậy, các hoạt động giám sát và đánh giá các chương trình, dự án liên quan đến xã hội cần tuân thủ một quy trình chung được gọi là phương pháp luận KHXH.

l. Các nghịch lý của xã hội:

Trước hết, có thể thấy tồn tại một loạt những nghịch lý khi xem xét các hiện tượng và sự kiện trong xã hội.

i) Bản thân sự kiện xã hội là một sự việc đầy mâu thuẫn. Sự mâu thuẫn đó nhiều khi không đơn thuần là do người ta có những quan điểm riêng biệt khác nhau đối với một sự kiện nào đó mà sự mâu thuẫn đã nằm trong bản thân hiện tượng, sự kiện xã hội.

ii) Bản thân những người tham gia tạo thành xã hội luôn luôn có xu hướng muốn trình bày sự việc theo cách nhìn nhận từ góc độ lợi ích của mình. Lợi ích của mỗi người khác nhau và do vậy tiêu chuẩn để đánh giá một sự kiện xã hội có thể rất khác nhau. Hơn thế, cái có ích cho mỗi người trong xãø hội chưa chắc đã có ích cho toàn thể xã hội đó.

iii) Đứng trước hiện tượng cần nghiên cứu, rất khó phân biệt giữa cái gì là cảm giác và cái gì là xét đoán của bản thân mình. Cảm giác đúng không nhất thiết đưa đến một suy đoán đúng. Hơn thế người nghiên cứu xã hội không thể tính được thái độ chủ quan của mình khi nhìn nhận một sự kiện xã hội, do đó, kết luận rút ra thường chịu ảnh hưởng của thiên kiến chủ quan đó.

2. Nghiên cứu xã hội:

Nghiên cứu xã hội để tiến hành thẩm định, đánh giá là quá trình xác định thực tế xã hội trong đó các chương trình, dự án đang diễn ra là gì. Trên  thực tế, những người đánh giá trong khi suy nghĩ để xác định thực tế xã hội là gì đã phải tham gia vào một quá trình động rất mạnh mẽ và phức tạp gồm nhiều khâu.

Thu thập dữ liệu và phân tích. Việc nghiên cứu có hệ thống bao gồm hai thao tác cơ bản :

* Quan sát, đo lường, ghi chép thông tin, tức là thu thập dữ liệu

* Sắp xếp, tổ chức những số liệu này để có thể tìm được ý nghĩa của chúng là gì, tức là phân tích số liệu.

- Bổ sung vào kiến thức: mục tiêu của nghiên cứu xã hội là bổ sung vào những gì đã được biết về các cá nhân trong xã hội và về hành vi cấu thành của các nhóm dân cư. Điều này được tiến hành theo các cách chính .

* Khai phá: tìm kiếm, phát hiện hiện tượng chưa được xem xét trước kia. Thông thường mục tiêu của nó là phát hiện xem cái gì là có ý nghĩa nhất hay có ích nhất cho vấn đề đặt ra. Trước hết bằng cách thu được một tổng quan.

* Mô tả: Chỉ ra một cách chi tiết nhất xem một hiện tượng gì đó hoặc một ai đó trông như thế nào, riêng biệt hoặc trong sự phối hợp với các hiện tượng khác hay những người khác.

* Giải thích: Trình bày xem tại sao một hiện tượng hay một ai đó lại diễn ra như vậy.

 - Các nguồn số liệu: Các nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu xã hội có thể có nguồn gốc ở bất cứ chỗ nào mà con người có tương tác với nhau. Một số nguồn thông tin quan trọng như gia đình, nhà trường, các doanh nghiệp hay tổ chức hành chính. Thông tin có thể từ các tổ chức đoàn thể, hiệp hội tự nguyện cũng như từ các đảng, nhà nước, dân tộc, tổ chức quốc tế.

- Ý nghĩa xã hội: Hiện nay vai trò nghiên cứu xã hội ngày càng trở nên rất quan trọng trong trong việc giải thích các hiện tượng xã hội, hành vi con người cũng như  việc ra quyết định.

II. CÁC CÁCH TIẾP CẬN ĐỂ  TÌM HIỂU CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Việc đánh giá, thẩm định được tiến hành cùng với việc nghiên cứu môi trường xã hội trong đó các chương trình dự án đã diễn ra. Có hai cách lý giải về tổ chức xã hội.

1. Xã hội là một cơ cấu:

Theo cách lý giải này, mỗi xã hội được quan niệm là một cấu trúc lớn, tổng quát chi phối hành vi của con người.

i. Cơ cấu chức năng: quan niệm xã hội như một cơ cấu lớn trong đó mỗi bộ phận thực hiện một chức năng cần thiết cho sự tồn tại của cơ cấu đó. Do vậy, các hoạt động trong cơ cấu phải hài hoà với nhau tạo nên một sự đồng thuận chung.

ii. Cơ cấu xung đột: quan niệm xã hội được phân chia thành các tầng lớp với văn hoá riêng của mình xung đột với nhau tạo động lực cho sự phát triển xã hội.

- Phân tầng diễn ra có thể do kinh tế, do tôn giáo, do chính trị.

2. Tương tác xã hội:

Theo cách lý giải này, hành vi con người được diễn ra ra tuỳ thuộc vào sự tương tác giữa các bên trong quá trình tiếp xúc với nhau. Do đó, hành vi diễn ra như thế nào là sự việc sáng tạo trong tương tác giữa các cá nhân.

III.PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC XÃ HỘI:

Phương pháp luận KHXH đề cập tới các nguyên tắc, các quy trình và các chiến lược nghiên cứu. Điều này rất quan trọng vì dữ liệu nằm trong cấu thành mỗi cuộc đánh giá, và các kết luận dựa vào những đánh giá này, do vậy cuộc đánh giá tốt tùy thuộc vào cách thu thập dữ liệu tốt. Có hai cách tiếp cận về phương pháp.

i. Thực chứng luận: bao hàm những sự thừa nhận thực tế được cấu tạo bằng những hiện tượng liên kết lẫn nhau một cách nhân quả. Cái gì là thực chỉ có thể chứng minh là thực do quy chiếu vào bằng chứng thực nghiệm có thể quan sát được về sự tồn tại của nó. Sự thiết lập tri thức khoa học đưa đến sự giải thích có tính thực nghiệm xem những hiện tượng này liên kết với những sự vật hiện tượng khác như thế nào. Điều này được biểu đạt dưới dạng thức

'' Nếu A xảy ra thì B cũng xảy ra''

Theo lý thuyết thực chứng, khoa học bao gồm sự khám phá ra các mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng mà về thực chất luôn luôn là đúng. Những mệnh đề tổng quát như thế được gọi là các quy luật  khoa học.

ii. Phản thực chứng :

- Trong khi khoa học tự nhiên cũng cấp những giải thích nhân quả của những sự kiện bên ngoài thì khoa học nhân văn quan tâm đến tri thức bên trong của '' cách xử sự có ý nghĩa'' hoặc quan tâm đến '' sự nắm bắt ý nghĩa'' của một kinh nghiệm cá nhân về thế giới.

Theo phản thực chứng, nguồn gốc những thuộc tính và hành vi cá nhân không thể được coi là ở bên ngoài về mặt bản thể với chủ thể cá nhân bởi vì đối với họ thực tế xã hội được tạo ra một cách có ý thức và tích cực bởi các cá nhân, những người dự định làm các việc này khác và gán những ý nghĩ cho hành vi những người khác. Phản thực chứng xác định thực tế xã hội không phải như thực chứng đang làm bằng cách đặt những phạm trù của người quan sát cho hành động cá nhân, mà bằng cách lĩnh hội và chấp nhận những nhân thức của các chủ thể và những giải thích về thế giới được cấu thành thông qua những tác động qua lại với các chủ thể khác.

Nhìn chung, có các bước sau trong quá trình thẩm định và đánh giá:

1.Xác định vấn đề nghiên cứu :

Một vấn đề nghiên cứu chỉ xuất hiện khi có hai điều kiện sau :

i. Có sự khác biệt giữa cái dự kiến sẽ xảy ra và cái xảy ra trên thực tế.

ii.  Tồn tại ít nhất hai cách giải thích cho sự khác biệt kể trên.

Một vấn đề chỉ được chọn lựa làm vấn đề nghiên cứu khi được tính tới :

- Độ hợp thời.

- Độ phổ quát.

- Tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội.

- Những nhóm đối tượng đặc thù chịu tác động.

- Khả năng tài chính.

2. Thao tác hoá khái niệm:

Hiện tượng cần thẩm định, đánh giá được triển khai thông qua quá trình thao tác hoá xã hội thành các biến số.

i.  Biến số: là một đại lượng có thể tiếp nhận các giá trị khác nhau.

- Biến số tuỳ thuộc: vấn đề cần nghiên cứu, đánh giá

- Biến số độc lập: những yếu tố, ảnh hưởng đến sự thay đổi của biến số tuỳ thuộc.

ii .Chỉ báo

- Biến số được đo bằng các hệ thống chỉ báo.

- Một biến số có thể được đo bằng nhiều hệ thống chỉ báo khác nhau và sự lựa chọn hệ chỉ báo thích hợp sẽ cung cấp kết quả chính xác.

iii. Khung lý thuyết: mối quan hệ được sơ đồ hoá giữa các biến số độc lập và biến số tuỳ thuộc trên căn bản cách lý giải xã hội mà ta chấp nhận.

iiii. Giả thuyết: khả năng có thể xảy ra nhất trong mối quan hệ giữa biến số độc lập và biến số tuỳ thuộc trên căn bản các cách giải thích mà ta chấp nhận.

3. Lựa chọn phương pháp để xác nhận giả thuyết:

i. Các phương pháp định lượng :

Các phương pháp định lượng được tiến hành khi:

- Vấn đề xem xét quen thuộc với người nghiên cứu,

- Vấn đề xem xét quen thuộc với người trả lời. .

- Vấn đề xem xét có thể lượng hoá được.

- Phương pháp định lượng tiến hành thông qua xem xét số liệu thống kê hoặc tiến hành thu thập số liệu từ các cuộc điều tra chọn mẫu.

Điều tra chọn mẫu thu thập số liệu từ một mẫu đại diện cho đối tượng nghiên cứu. Kích thước mẫu được xác định thông qua công thức hoặc lựa chọn kinh nghiệm.Thông thường kích thước mẫu tối thiểu phải từ 30 đơn vị trở lên.

                ii. Các phương pháp định tính

- Phương pháp quan sát: quan sát hiện lượng theo hai cách

+ Quan sát độc lập: độc lập bên ngoài với hoạt động của đối tượng nghiên cứu.

+ Quan sát tham gia: tham gia cùng với hoạt động của đối tượng nghiên cứu.

 

Phương pháp phỏng vấn sâu :

+ Phỏng vấn sâu đối tượng trong hoạt động.

+ Phỏng vấn sấu chuyên gia.

- Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: tập trung các đối tượng cần nghiên cứu để thảo luận yề một chủ đề gì đóù nhằm thu thập những thông tin chiều sâu mà bình thường các cá nhân có thể quên không nghĩ tới. Số lượng người tham gia thảo luận thông thường từ 6 tới 10 người.

iii .Thu thập số liệu sẵn có

Tận dụng các loại số liệu sẵn có tồn tại trong lĩnh vực đó tại địa bàn đấy.

4. Tiến hành thu thập dữ liệu:

Tổ chức các đội công tác tiến hành thu thập số liệu. Những yếu tố cần lưu ý là thời tiết, địa hình, thời điểm, phong tục văn hoá...

5. Xử lý số liệu :

i. Số liệu định lượng thường được xử lý bằng máy tính và thể hiện bằng hai dạng:

- Thông kê tần suất: thể hiện mức độ xuất hiện của một hiện tượng nào đó.

- Các tương quan: mối liên quan giữa một hoặc nhiều biến số độc lập với biến số tuỳ thuộc phản ánh tác động của biến số độc lập đến biến số tuỳ thuộc.

6. Viết báo cáo

Trình bày các kết quả thu được dưới dạng các văn bản viết với các kết luận và khuyến nghị kèm theo. Báo cáo phải ngắn gọn và chặt chẽ.

IV KẾT LUẬN

Phương pháp luận khoa học xã hội thể hiện cách tư duy lô gích trước bất kỳ hiện tượng xã hội nào đang diễn ra. Sự khó khăn nhất của phương pháp này là tính chủ quan sẵn có trong mỗi người đi nghiên cứu, đánh giá, thẩm định. Tuy nhiên, áp dụng đúng quy trình này sẽ hạn chế đáng kể những sai sót chủ quan trong việc đánh giá và thẩm định./-

top
 
Mục khác:
  • Danh mục các dự án CNTT 2003 - 2004
  • Những người anh em của Internet
  • Mạng lưới: Khả năng vô hạn?
  • Doanh nghiệp và thương mại điện tử: Trông chờ hay nắm bắt thời cơ?
  • UBND tỉnh Đồng Nai ban hành qui định về quản lý, sử dụng hệ thống thư điện tử.
  • Tìm hiểu về Centrino
  • Tổng quan về hệ điều hành Symbian
  • Bài học nào từ mô hình “Bắc Ninh điện tử”?
  • Đề án 112: Chiếc áo quá rộng!
  • Người thổi lửa cách mạng giáo án điện tử
  • Hiệp định công nghệ thông tin ITA
  • GIS VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC.
  • ThinkFree Office - Một giải pháp thay thế phù hợp ngân sách cho các cơ quan hành chính??
  • Luật CNTT
  • Đề tài nghiên cứu khoa học do Hội Tin học chủ trì năm 2007
  • Điều lệ tổ chức và hoạt động của Viện nghiên cứu Tin học và Kinh tế Ứng dụng
  • Thư giản: Tìm hiểu tử vi năm 2008
  • Xem chỉ tay
  • Hội viên:
     
    Huy hiệu Hội Tin học Đồng Nai
     
     
    Đại học DL Lạc Hồng
     
     
    Logo Viện EIRI thuộc Hội Tin học Đồng Nai
     
     


     
     
    Trang web của Hội Tin Học Tỉnh Đồng Nai (Cty Tinh Vân hỗ trợ thiết kế kỹ thuật)
    Chịu trách nhiệm chính: Ông Phan Thanh Kiều – Chủ tịch Hội Tin học Đồng Nai
    Tel: 0909999388; Email: kieupt@gmail.com