Những năm gần đây, đi cùng với tiến trình và nhu cầu tin học hoá tại các Cơ quan Quản lý hành chính Nhà nước, việc ứng dụng GIS vào quản lý đang được một số Tỉnh/Thành trong cả nước xem xét đến như một công cụ quản lý hiện đại. GIS ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin trong việc xây dựng những bộ cơ sở dữ liệu kết hợp với kỹ thuật bản đồ tạo nên cái nhìn trực quan và cụ thể cho việc định hướng và quản lý một vùng - miền cụ thể. GIS là một công cụ mạnh để khảo sát những vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị. Tuy nhiên, việc chọn lựa áp dụng công nghệ này vào quản lý cũng cần xác định rõ mối quan hệ ai sẽ nắm quyền kiểm soát công nghệ, ai sẽ kiểm soát điều hành nhà nước. Bài viết này hy vọng thông tin thêm cho quý độc giả kinh nghiệm về việc ứng dụng GIS tại một số cơ quan quản lý nhà nước của Hoa Kỳ và từ đó có quyết định đúng đắn trong việc đầu tư một hệ thống GIS cho Tỉnh/Thành và rộng hơn nữa ở mức Quốc gia.
KHÁI NIỆM
Theo giáo sư Akhlaque Haque( Đại học Alabama -Birmingham, USA), hệ thống thông tin địa lý là những công cụ phân tích và trợ giúp quyết định được tổ chức, so sánh và phân tích những loại thông tin đặc trưng trong một hệ thống có tổ chức. Khả năng hiển thị trực quan của hệ thống GIS qua kết quả phân tích trên bản đồ, và qua đó, cung cấp một công cụ giúp giám sát các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị. GIS là công nghệ tốt nhất để hiểu và giải quyết các vấn đề liên quan đến không gian và địa điểm.
Những năm qua, sự phát triển của GIS luôn gắn liền với mối quan tâm của các nhà điều hành quản lý nhà nước cũng những chuyên gia kỹ thuật nắm giữ công nghệ này.
Mấu chốt của một hệ thống GIS là dữ liệu và cách tổ chức dữ liệu. Nói chung, có hai loại dữ liệu liên quan đến hệ thống GIS: dữ liệu không gian địa lý( Dữ liệu địa lý) và dữ liệu phụ thuộc. Dự liệu địa lý liên quan đến số liệu địa lý và không gian và dữ liệu phụ thuộc liên quan đến dân số, thu nhập hay mạng lưới y tế, trong đó, dữ liệu địa lý là nền tảng của GIS: Tính chính xác của thông tin địa lý trên máy tính đòi hỏi kiến thức về địa lý và bản đồ cũng như việc chuyển đổi thông tin sang bản đồ số. Điểm mạnh của bản đồ số chính là tính uyển chuyển của việc hiển thị các dữ liệu trên máy tính theo từng góc nhìn khác nhau.
Khi sức mạnh thực sự của hệ thống GIS phụ thuộc vào dữ liệu thì việc chia sẻ dữ liệu lại chậm chạp hơn sự phát triển của công nghệ, bởi vì có quá nhiều định dạng dữ liệu đang được sử dụng trong các cơ quan quản lý. Một yếu tố khác của vấn đề là do các cơ quan quản lý dữ liệu đã bỏ công sức ra thu thập dữ liệu nên thường có tâm lý độc chiếm dữ liệu vì lợi ích riêng, hoặc do thiếu kinh phí xây dựng hay mua thêm dữ liệu mới. Ngay cả khi hệ thống GIS đã có thể vận hành thì vấn đề dữ liệu chính là trở ngại chính cho thấy tính hiệu quả của hệ thống GIS. Những năm qua tại Việt nam, tính hiệu quả của các hệ thống GIS không thành công hoặc thành công một phần cũng chính là bởi yến tố này. Kinh nghiệm tại Hoa Kỳ cho thấy, năm 1994 Tổng thống Bill Clinton đã phải ban hành đạo luật Hạ tầng Dữ liệu Không gian Quốc gia để giải quyết vấn đề này. Do đó, cơ quan quản lý thông tin cấp quốc gia Việt nam phải chủ động trong việc xác định các tiêu chuẩn thông tin địa lý toàn quốc để tránh lãng phí và thiếu định hướng đầu tư chung. Trong chính sách xây dựng thông tin này, các cơ quan quản lý nhà nước cần khuyến khích xã hội hoá việc xây dựng các cơ sở dữ liệu thông tin phụ thuộc dùng chung theo dạng bắt buộc tham gia và có chia sẻ, ví dụ thông tin doanh nghiệp, thông tin lao động xã hội, thông tin quản lý giao thông.
GIS VÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Vì lý do việc đầu tư cho các hệ thống GIS đòi hỏi có nhiều kinh phí, thời gian và nhân lực do đó thông thường chỉ có các Cơ quan quản lý nhà nước mới có khả năng đứng ra xây dựng được. Rõ ràng là, công nghệ đóng vai trò lớn trong việc hoạch định các chính sách : GIS có thể được sử dụng cho các công việc liên quan đến các cơ quan như Kế hoạch Đầu tư, Đầu tư phát triển hạ tầng, Tài nguyên và Môi trường, Công an, Giao thông, Giáo dục và nhiều lĩnh vực khác. Chắc chắn là, việc dùng và phối hợp thông tin giữa các cơ quan qua hệ thống GIS sẽ giải quyết được sự chồng chéo trong quản lý giữa các cơ quan như hiện nay. Hãy cùng hình dung một hệ thống GIS chung trong đó các cơ quan như Bưu điện, Cấp nước, Điện và Giao thông có các dữ liệu phụ thuộc được sắp lớp trên một hệ thống dữ liệu không gian chung. Hệ quả chắc chắn là có quy hoạch chung và cùng một con đường sẽ không diễn ra tình trạng đào lên lấp xuống như cách làm hiện nay của nhiều nơi. Hình ảnh trực quan có thể tham khảo là dịch vụ của cơ quan quản lý giao thông
GIS VÀ QUAN HỆ QUẢN LÝ
Những chuyên gia công nghệ được đào tạo chuyên sâu về GIS sẽ có ảnh hưởng lớn đến xã hội bởi kiến thức và phẩm hạnh sẽ đóng vai trò lớn trong việc điều hành quản lý. Từ quan điểm này, các nhà quản lý công nghệ không chỉ đơn thuần là chuyên gia kỹ thuật mà họ còn bao hàm quyền hạn quản lý. Nếu quyền hạn này chỉ đơn thuần dựa trên công nghệ kỹ thuật, thì quyền hạn này sẽ có xu hướng làm yếu đi mục tiêu phục vụ nhân dân của các cơ quan hành chính và sẽ tăng cường tình trạng quan liêu.
Để vừa có thể giải quyết tình trạng quan liêu và vừa có thể xác định rõ chính sách phục vụ, sự kết hợp giữa các chuyên gia kỹ thuật tại các cơ quan quản lý và các cơ quan giám sát và hoạch định chính sách như Hội đồng Nhân dân cần phải được tăng cường. Một cách tự nhiên, cộng đồng những người sử dụng GIS ngày nay là những người đã quen thuộc với máy tính và là những người nhấn mạnh đến việc dùng các công cụ có tính công nghệ hơn là kinh nghiệm quản lý đơn thuần. Những nhà quản lý có kiến thức GIS sẽ áp dụng mạnh công cụ này vào cơ quan của mình. Từ đó, việc giám sát hoạt động sẽ khó khăn hơn đối với các nhà hoạch định chính sách khi không được tiếp xúc với thông tin từ GIS và GIS cũng sẽ làm thay đổi nhiều trong các quan hệ xã hội.
Khi việc sử dụng máy tính trở nên rộng khắp, một người dân bình thường cũng có thể sử dụng công nghệ thông tin và có được ý kiến trực tiếp liên quan đến họ. Cộng đồng những người có đồng quan điểm trên mạng sẽ có ảnh hưởng nhiều hơn đến những nhà hoạch định và quyết định chính sách. Điều này hoàn toàn không thể thực hiện được khi không có mạng lưới công nghệ thông tin. Tuy nhiên, điều này cũng còn phụ thuộc vào yếu tố những người này có hiểu rõ những nhu cầu thực của họ hay không. Do đó, GIS sẽ trở thành công cụ có ảnh hưởng đến xã hội hay chỉ là công cụ hỗ trợ tuỳ thuộc vào chính sách chi sẻ thông tin chung.
KẾT LUẬN
Vai trò của quản lý nhà nước bằng công cụ GIS dường như sẽ dẫn đến việc định nghĩa lại quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng thụ hưởng trong xã hội. Việc chấp nhận xây dựng một hệ thống GIS không chỉ đơn thuần là việc xây dựng một hệ thống thông tin mà là xây dựng một nền tảng cho việc hoạch định chính sách. Công nghệ đầy sức mạnh này sẽ đem lại nhiều lợi ích cho người làm chủ được nó. Trong tương lai gần, GIS sẽ là công cụ được nhiều quốc gia tiếp tục xây dựng, khai thác. Dự báo, GIS sẽ không chỉ phát triển mạnh tại các nước công nghiệp mà tại ngay cả các nước đang phát triển mà mạnh mẽ nhất là tại các cơ quan quản lý nhà nước. GIS sẽ đóng vai trò trung gian giữa những người hoạch định và quản lý chính sách với những người vận hành chính sách vì lợi ích chung của nhân dân.
( Lược dịch và biên tập từ Tạp chí Quản lý nhà nước PAR)
|
top |
